Nếu giếng nhà bạn có đường kính ống vách hẹp, số lựa chọn máy sẽ giảm đi nhiều.
Các bước lắp đặt
Trước khi hạ máy, nên đo điện trở cách điện của cuộn dây và ghi lại. Con số ban đầu này là mốc so sánh cho mọi lần kiểm tra về sau.
Dây tiếp địa phải được đấu đầy đủ, kể cả với máy dùng nguồn một pha. Đây là yêu cầu an toàn bắt buộc cho thiết bị điện làm việc trong nước.
Tóm tắt số liệu
Các giá trị dưới đây lấy nguyên từ bảng thông số của 4SA10/7:
- Model: 4SA10/7
- Vật liệu thân bơm: inox 304
- Cột áp lớn nhất: 42 m
- Nguồn điện: 3 pha / 380 V
- Lưu lượng lớn nhất: 14.4 m³/h
- Đường kính họng xả: 48 mm
- Thả vừa ống vách: cỡ 110 trở lên
- Công suất: 1.1 kW
- Cấp bảo vệ: IP68
- Vật liệu cánh bơm: nhựa kỹ thuật
- Xuất xứ thương hiệu: Ý
Cấu hình điện
Với nguồn ba pha, mất một pha khiến máy vẫn quay nhưng dòng trên hai pha còn lại tăng vọt. Bộ bảo vệ mất pha là thiết bị nên có trong mọi tủ bơm giếng khoan.
Tủ điện cần đặt nơi khô ráo, có mái che và cao hơn mức ngập của khu vực. Đây là chi tiết hay bị xem nhẹ ở công trình nông thôn.
Những điều cần tính trước khi mua
Nếu nhu cầu tăng theo mùa, nên chọn cỡ máy đáp ứng nhu cầu cao điểm nhưng vẫn nằm trong khả năng của giếng. Bồn chứa lớn là cách rẻ hơn để cân bằng nhu cầu.
Bước đầu tiên là xác định mực nước động của giếng khi bơm, không phải mực nước tĩnh lúc nghỉ. Cột áp cần thiết tính từ mực nước động lên tới điểm xả cao nhất, cộng thêm tổn thất đường ống.
Kiểm tra định kỳ
Tránh để máy khởi động quá nhiều lần trong một giờ. Tăng thể tích bồn chứa hoặc nới dải áp của rơ le là cách đơn giản để giảm số lần khởi động.
Thay thế chi tiết nên dùng đúng chủng loại của nhà sản xuất. Phớt và gioăng không đúng kích thước là nguyên nhân rò rỉ phổ biến.
Dùng vào việc gì
Công trình xây dựng dùng nước giếng cho trộn vữa và vệ sinh. Đây là nhu cầu tạm thời nhưng cường độ cao, nên cần kiểm tra khả năng hồi nước của giếng.
Nuôi trồng thuỷ sản dùng nước ngầm để thay nước ao. Lưu lượng là yếu tố quyết định ở nhóm này, còn cột áp thường không cao.
Vấn đề kỹ thuật thường gặp
Tủ bảo vệ mất pha rẻ hơn rất nhiều so với chi phí quấn lại động cơ chìm. Khi mất một pha, máy vẫn quay nhờ quán tính nên người dùng khó phát hiện bằng tai.
Van một chiều lắp sai chiều là lỗi khó phát hiện vì máy vẫn chạy mà không ra nước. Nên kiểm tra mũi tên trên thân van trước khi hạ máy xuống giếng.
Kiến thức nên biết trước khi vận hành
Van một chiều lắp sai chiều là lỗi khó phát hiện vì máy vẫn chạy mà không ra nước. Nên kiểm tra mũi tên trên thân van trước khi hạ máy xuống giếng.
Tủ bảo vệ mất pha rẻ hơn rất nhiều so với chi phí quấn lại động cơ chìm. Khi mất một pha, máy vẫn quay nhờ quán tính nên người dùng khó phát hiện bằng tai.
Bàn về các chỉ tiêu của 4SA10/7
Nếu chiều cao nâng vượt quá 42 m, 4SA10/7 sẽ không còn đẩy được nước tới điểm xả. Khi đó phải chọn model có cột áp lớn hơn 42 m thay vì tăng công suất.
Người dùng nên ghi lại 1.1 kW, 14.4 m³/h và 42 m của 4SA10/7 vào hồ sơ thiết bị. Khi hệ thống yếu đi, bộ ba số liệu gốc này của 4SA10/7 là căn cứ để biết máy đã suy giảm bao nhiêu.
Khi so 4SA10/7 với một cỡ máy khác, ba con số cần đặt cạnh nhau là 1.1 kW, 14.4 m³/h và 42 m. Chỉ nhìn riêng 1.1 kW sẽ dẫn tới chọn nhầm, vì công suất không nói lên khả năng bơm của 4SA10/7.
Điểm làm việc hợp lý của 4SA10/7 nằm ở khoảng giữa đường đặc tính, đọc theo bảng lưu lượng – cột áp của đúng mã. Cho 4SA10/7 chạy sát một trong hai đầu dải đều làm giảm tuổi thọ.
Khi thay thế một máy cũ bằng 4SA10/7, cần khớp cả 48 mm ở họng xả lẫn cấu hình 3 pha 380 V. Thiếu một trong hai, 4SA10/7 sẽ không lắp lẫn được vào hệ thống sẵn có.
Bảng thông số của 4SA10/7 ghi rõ 14.4 m³/h và 42 m; đây là số liệu thử nghiệm với nước sạch. Khi 4SA10/7 làm việc với chất lỏng đặc hơn, đường đặc tính sẽ tụt xuống so với hai con số đó.
Nếu nhu cầu của công trình vượt quá 14.4 m³/h, phương án đúng là ghép thêm một máy song song với 4SA10/7 chứ không phải ép 4SA10/7 chạy quá dải của nó.
Với 4SA10/7, lưu lượng lớn nhất ghi nhận là 14.4 m³/h. Con số 14.4 m³/h chỉ đạt được khi cột áp ở mức thấp, nên khi tính nhu cầu thực tế cho 4SA10/7 cần lấy giá trị nhỏ hơn 14.4 m³/h một khoảng dự trữ.
Cột áp lớn nhất của 4SA10/7 là 42 m. Tại đúng điểm 42 m thì lưu lượng gần bằng không, vì vậy chiều cao nâng thực tế khi dùng 4SA10/7 nên thấp hơn 42 m để máy còn cho lưu lượng đáng kể.
Cánh bơm của 4SA10/7 làm bằng nhựa kỹ thuật. Đây là chi tiết mòn trước nhất trên 4SA10/7, và vật liệu nhựa kỹ thuật là căn cứ để quyết định 4SA10/7 có hợp với nguồn nước tại chỗ hay không.
Thông tin đặt hàng
Sản phẩm có đầy đủ chứng từ và chế độ bảo hành theo quy định của nhà sản xuất. Báo giá gửi khách chưa gồm VAT.
Việc giao nhận được sắp xếp ngay khi chốt đơn. Hàng có sẵn kho với số lượng lớn, đơn chốt trong ngày giao trong ngày.

